Hạ tầng giao thông được xác định là động lực tăng trưởng

Tuesday, 04/21/2026 07:44
Acronyms View with font size

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh nhấn mạnh, phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ là động lực then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.

Chiều 20/4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận về kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021–2025 và định hướng giai đoạn 2026–2030. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã giải trình làm rõ những vấn đề đại biểu nêu, đồng thời nhấn mạnh phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ là động lực then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.

Chiều 20/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng.

Đẩy mạnh đầu tư cao tốc, hoàn thiện mạng lưới đường bộ

Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, thực hiện các kết luận của Trung ương, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông, được xác định là một trong những động lực quan trọng để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.

Ở lĩnh vực đường bộ, theo quy hoạch đến năm 2050, cả nước có 43 tuyến cao tốc với tổng chiều dài khoảng 8.993 km; trong đó, 6.539 km được đầu tư trước năm 2030; số còn lại được đầu tư giai đoạn 2030-2050.

Tính đến nay, cả nước đã khai thác và thông xe kỹ thuật khoảng 3.345 km, 458 km nút giao.

Về quy mô đầu tư, có 548 km cao tốc 2 làn xe (chiếm 16%); 1.559 km cao tốc 4 làn xe hạn chế (chiếm 47%) và 1.238 km cao tốc 4-6 làn xe hoàn chỉnh (chiếm 37%).

Trong đó, Bộ Xây dựng (trước đây là Bộ Giao thông vận tải) thực hiện 2.561 km (chiếm 77%), 748 km còn lại do địa phương thực hiện.

Về phương thức đầu tư, có 2.458 km được đầu tư công (chiếm 74%) và 860 km đầu tư theo hình thức công tư PPP (chiếm 26%).

Thông tin thêm, Bộ trưởng cho biết, hiện đang triển khai chuyển tiếp 1.252 km, dự kiến hoàn thành vào năm 2027. Trong đó, Bộ Xây dựng thực hiện 153 km; các địa phương và Bộ Quốc phòng thực hiện 1.099 km với 611 km được đầu tư công và 641 km được đầu tư PPP.

Tính đến hết năm 2025, mật độ cao tốc trên cả nước đạt khoảng 2,23km/100km². Tuy nhiên, còn chênh lệch lớn giữa các vùng, trong khi đồng bằng sông Cửu Long đạt 4,43km/100km², thì 14 tỉnh cũ biên giới phía Bắc chỉ đạt 0,58km/100km².

Giai đoạn 2026-2030, dự kiến tập trung nguồn lực đầu tư, nâng cấp khoảng 1.721 km cao tốc, trong đó có nâng cấp cao tốc 2 làn xe, 4 làn xe hạn chế lên 6 làn xe theo đúng quy hoạch, với nhu cầu vốn khoảng 802.868 tỷ đồng.

Đối với hệ thống quốc lộ, Bộ trưởng cho biết, hiện cả nước có 24.376 km. Thực hiện chủ trương phân cấp, từ 1/7/2025, Bộ Xây dựng đã chuyển giao phân cấp 17.520 km cho địa phương quản lý; Bộ hiện còn quản lý 4.875 km, chủ yếu là các tuyến BOT và một số dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh.

Về đường bộ ven biển, hiện nay đã hoàn thành 1.701 km (khoảng 60%), đang triển khai thi công 340 km tại 10 tỉnh, thành. Từ đó, Bộ trưởng đề nghị các địa phương khẩn trương triển khai hoàn thành trong năm 2026.

Ngoài ra, trong giai đoạn 2026-2030, cần tiếp tục đầu tư thêm 772 km đường bộ ven biển để hoàn thành đồng bộ toàn tuyến.

Liên quan đến phát triển mạnh đường sắt, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết theo quy hoạch, mạng lưới gồm 25 tuyến với tổng chiều dài 6.658 km; trong đó 7 tuyến hiện hữu dài 2.510 km và 18 tuyến xây dựng mới với chiều dài 4.148 km.

Theo Bộ trưởng, hệ thống đường sắt quốc gia hiện nay chủ yếu khổ 1.000 mm, được xây dựng từ lâu; riêng tuyến Hà Nội - Lạng Sơn sử dụng khổ tiêu chuẩn 1.435 mm.

Thời gian tới, sẽ tập trung phát triển các tuyến đường sắt quốc gia như: Hà Nội - TP.HCM; Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội - Lạng Sơn; Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái; TP.HCM - Cần Thơ - Cà Mau...

Đối với đường sắt đô thị, đến nay cả nước đã hoàn thành 3 tuyến với tổng chiều dài khoảng 41 km (trong đó Hà Nội có 2 tuyến, TP.HCM có 1 tuyến).

Trong giai đoạn tới, Hà Nội dự kiến phát triển 18 tuyến với 1.052 km, TP.HCM đầu tư xây dựng 12 tuyến với 1.172 km. Tổng chiều dài khoảng 2.224km/ 30 tuyến, nhu cầu vốn cần khoảng 743.907 tỷ đồng.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh giải trình, làm rõ những vấn đề Đại biểu Quốc hội nêu

Hàng không, cảng biển hướng tới huy động xã hội hóa

Tại phiên giải trình, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, theo quy hoạch đến năm 2030 cả nước có 31 cảng hàng không (gồm 15 cảng quốc tế, 16 cảng nội địa), công suất khoảng 294 triệu hành khách/năm; định hướng đến năm 2050 có 34 cảng, công suất khai thác 533 triệu hành khách/năm.

Đến nay, cả nước có 22 cảng hàng không với tổng công suất khoảng 155 triệu hành khách/năm, tăng 1,6 lần so với nhiệm kỳ trước.

Về định hướng phát triển, trong số 31 cảng hàng không theo quy hoạch sẽ có 6 cảng cấp 4F, 1 cảng cấp 4C, các cảng còn lại cấp 4E.

Về đầu tư, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, định hướng sẽ giảm tỷ trọng đầu tư công, tập trung các dự án nâng cấp sửa chữa; tăng cường huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là các dự án PPP và đầu tư tư để phát triển cảng hàng không.

Đối với lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa, Bộ trưởng Trần Hồng Minh thông tin: Cả nước hiện có 309 bến cảng với tổng chiều dài khoảng 107 km, trên 3.200 km đường biển; cùng 44 bến cảng dầu khí ngoài khơi. Năng lực hệ thống cảng đạt khoảng 955 triệu tấn/năm, tăng 1,3 lần so với năm 2020.

Về kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa, thời gian qua đã cải tạo 17 tuyến vận tải, nâng tĩnh không 7 cầu đường bộ cắt qua các tuyến đường thủy nội địa quốc gia và các khu logistics.

Hiện có 310 cảng thủy nội địa, trong đó có 202 cảng hàng hóa, 11 cảng hành khách, 97 cảng chuyên dùng, 6.332 bến thủy nội địa và 2.562 bến khách ngang sông.

Giai đoạn 2026-2030, định hướng tiếp tục xã hội hóa đầu tư cảng biển. Về phía Bộ Xây dựng sẽ tập trung vào phát triển, khơi thông hệ thống luồng tuyến; cùng đó, đẩy mạnh phân cấp các cảng thủy nội địa về địa phương quản lý, đầu tư.

Search by :

Rating

(Hover on the star to select points)