Thông tin KHCN
 

1. Ứng dụng thông tin hóa trong quản lý công trình xây dựng

Phương thức quản lý có thể thực hiện quản lý theo hình thức mở. Quản lý mở là nhận sự giám sát quản lý từ tất cả các tầng lớp xã hội, để những người quan tâm và có nhiệt huyết trong ngành Xây dựng có thể tích cực tham gia, đồng thời tăng cường tự kiểm soát và quản lý đối với nội bộ doanh nghiệp, từ đó làm cho tố chất của người quản lý được nâng cao hơn và trình độ quản lý cũng được nâng lên. Biện pháp cụ thể là: Trên công trường xây dựng tiến hành lắp đặt hệ thống camera theo dõi rõ nét, thông qua liên kết giữa kênh thông tin quản lý dự án với hệ thống camera giám sát thì toàn bộ quá trình quản lý và thi công được đồng bộ đưa lên mạng thông tin. Trên kênh thông tin có thể mở ra không gian để có thể tương tác với mọi người từ mọi tầng lớp xã hội, để những người bên ngoài cũng có thể tích cực tham gia vào, đưa ra ý kiến hoặc kiến nghị của họ, đồng thời có thể đưa ra gợi ý hay lời khuyên, giới thiệu những công nghệ và kinh nghiệm tiên tiến. Vận dụng phương thức này có một lợi ích rất lớn, tức là có thể nâng cao đáng kể mức độ tín nhiệm của xã hội, làm cho giá trị gia tăng của kiến trúc cũng được nâng cao đáng kể, từ đó xúc tiến nâng cao doanh thu từ xây dựng. 

 

1. Kỹ thuật thi công bê tông chống thấm

- Có thể chế tạo bê tông chống thấm thông qua việc điều chỉnh tỷ lệ cấp phối hoặc bổ sung chất phụ gia..., để đạt được cấp độ chống thấm của nó không nhỏ hơn P6. Thiết kế cường độ khi thử nghiệm phối trộn bê tông chống thấm yêu cầu nâng cao 0.2Mpa. 

 

Trong nhiều năm, Viện Nghiên cứu thiết kế xây dựng Alma Ata (Kazakhstan) đã tiến hành các nghiên cứu khoa học và thử nghiệm sản xuất đối với công nghệ chế tạo bê tông bọt không chưng áp. Công nghệ này có nhiều ưu điểm so với công nghệ sản xuất bê tông khí chưng áp, tuy nhiên do nhiều lý do, công nghệ này tới nay vẫn chưa thực sự được triển khai rộng rãi. Đặc biệt, bê tông bọt chứng tỏ hiệu quả thuyết phục trong xây dựng liền khối, bởi trong lĩnh vực này, bê tông khí cực kỳ nhạy cảm với sự sụt giảm nhiệt độ, trở thành phương án thiếu hợp lý và khó khăn về mặt kỹ thuật. 

 

Mới đây, tại Moskva, Diễn đàn nhân kỷ niệm 25 năm ngày SAP bước vào thị trường Nga đã được tổ chức. 

 

Vật liệu này được tạo ra ở nhiệt độ cực cao, do đó, việc sản xuất tại nhà là không thể. Thủy tinh được nghiền mịn (tới trạng thái bụi), hòa với dioxide carbon và đưa vào lò nung, ở nhiệt độ 750o C hỗn hợp tan chảy, trong đó có rất nhiều bong bóng khí nhỏ, kín khí. Sau đó, các viên (hay hạt) được hình thành từ hỗn hợp thu nhận được. 

 

Năm 2018, thành phố Hà Nội đã xác định 5 nhiệm vụ trọng tâm thuộc Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo  hoạch đã được phê duyệt. Ước tính kinh phí thực hiện Chương trình này là hơn 11 tỷ đồng trích từ nguồn ngân sách của thành phố.

 

Theo xếp hạng của tạp chí chuyên ngành gốm sứ hàng đầu thế giới Ceramic World Review thì năm 2016 gốm sứ xây dựng Việt Nam đứng hàng thứ 5 sau Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Tây Ban Nha về sản lượng sản xuất và tiêu thụ. Năm 2017, tiếp tục là một năm tăng trưởng mạnh về đầu tư. Gắn liền với điều đó là triển vọng và thách thức. Hiệp hội gốm sứ xây dựng Việt Nam xin cung cấp những dữ liệu sau với mục đích cập nhật những thông tin mới nhất để các nhà đầu tư cũng như các nhà buôn có cái nhìn toàn diện về sự phát triển của ngành ceramic Việt Nam.

 

Chúng ta đều biết, công trình xây dựng tiêu thụ vật liệu và năng lượng rất lớn. Theo số liệu thống kê của nhiều nước trên thế giới thì tỷ lệ tiêu thụ năng lượng của công trình xây dựng trong đô thị thường chiếm tới 40-70% tổng lượng tiêu thụ của toàn thành phố. Tiêu thụ càng nhiều vật liệu và năng lượng thì sẽ dẫn đến lượng phát thải “khí nhà kính” càng lớn và gây ra biến đổi khí hậu. Vì vậy, hiện nay ở rất nhiều nước trên thế giới đã ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn thiết kế, xây dựng “công trình xanh”. Bốn tiêu chí về công trình xanh là: Tiết kiệm và sử dụng hợp lý năng lượng, Tiết kiệm và tái sử dụng vật liệu xây dựng, Tiết kiệm và tái sử dụng nguồn nước, Bảo tồn sinh thái và môi trường đất. Để đạt được bốn tiêu chí này, vật liệu xây dựng đóng vai trò quan trọng.

 

Từ khi người Pháp đầu tư dây chuyền sản xuất xi măng đầu tiên ở Việt Nam tại Tràng Kênh - Hải Phòng cách đây hơn 100 năm, ngành xi măng chìm đắm trong công nghệ lạc hậu suốt cả thế kỷ. Xi măng lò quay phương pháp ướt, quy mô nhỏ, rồi lò đứng thủ công, lò đứng cơ giới hóa cải tiến, tất cả đều gắn với lao động nặng nhọc, năng suất thấp, chất lượng không ổn định và ô nhiễm môi trường. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ nhu cầu xi măng tiêu thụ thấp, nhà đầu tư nhỏ lẻ, năng lực tài chính, công nghệ, thị trường đất yếu và thực ra công nghệ xi măng thế giới cũng mới có những bước tiến bộ vượt bậc từ khi ra đời công nghệ lò nung phương pháp khô, có tháp trao đổi nhiệt và hệ thống tiền nung. Điều đáng nói là sự thay đổi phương pháp nung kéo theo hàng loạt sự đổi mới đến chóng mặt ở tất cả các công đoạn của dây chuyền sản xuất xi măng theo phương pháp khô ra đời vào thời kỳ của công nghệ 3.0 nhưng thực ra công nghệ này đã đặt ra các tiền đề của công nghệ 4.0.

 

1.Đặt vấn đề

Trong thời gian vừa qua, vấn đề cao độ nền xây dựng đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý và cộng đồng quan tâm, đã có nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh việc xác định cao độ nền, quy hoạch chiều cao, quản lý và cung cấp thông tin về cốt nền. Đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, việc thay đổi định hướng cao độ nền chỉ một vài cm cũng gây ra những tác động to lớn đền nhiều lĩnh vực, cũng như tạo ra những dư luận không tốt trong cộng đồng. Trong khi đó, tại các đô thị vừa và nhỏ, việc lựa chọn cao độ nền cũng là một bài toán hóc búa với việc cân đối giữa yêu cầu về phòng chống ngập lụt, an toàn cho người dân và các hoạt động đô thị với khả năng và điều kiện tài chính của đô thị cũng như của các nhà đầu tư và người dân. 

    Trang   ‹‹ Trước 8 9 10 11 12 13 14 15 Tiếp ››

LIÊN KẾT WEBSITE