Nội dung

Lĩnh vực

Đặt câu hỏi

Cá nhân/ Doanh nghiệp/ Tổ chức(*)

Email(*)

Số điện thoại

Địa chỉ

Lĩnh vực

Tiêu đề(*)

Nội dung(*)

Mã xác nhận(*)

     

Cách tính chi phí lập thiết kế bản vẽ thi công cho công trình trạm biến áp

Hiện tôi đang gặp khó khăn trong xác định chi phí lập thiết kế bản vẽ thi công cho công trình trạm biến áp mà có chi phí thiết bị ≥ 50% tổng chi phí xây dựng và thiết bị trong dự toán xây dựng công trình. Theo hướng dẫn của Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021: “Trường hợp công trình trạm biến áp có chi phí thiết bị ≥ 50% tổng chi phí xây dựng và thiết bị trong dự toán xây dựng công trình thì chi phí thiết kế các công trình này xác định bằng cặp trị số định mức tỷ lệ phần trăm (%) theo chi phí xây dựng và chi phí thiết bị (chưa có thuế giá trị gia tăng) ban hành tại bảng 2.6 hoặc bảng 2.7 và bảng CN2 kèm theo Thông tư này”.

Khi đó áp dụng cách tính theo hướng dẫn của điều này theo công thức:

 Tính theo chi phí xây dựng: k1% x Kđc1 x Gxd

Tính theo chi phí thiết bị: k2% x Gtb

Tổng giá trị = 2,46% x 2,15 x Gxd + 0,73% x Gtb

Trong đó: Kđc1: Đang áp dụng cho Công trình trạm biến áp, cấp IV: k = 2,15

Các hệ số: 2,46% lấy theo bảng 2.7; 0,73% lấy theo bảng CN2.

Xin hỏi, khi áp dụng cách tính theo công thức này thì có được nhân với hệ số điều chỉnh 2,15 không?

Trịnh Ngọc Huần (huan.namanh@gmail.com) -

Hướng dẫn vị trí, thiết kế, cấp phép thi công nút giao đấu nối tạm thời

Tại khoản 3 Điều 31 quy định: “3. Thẩm quyền chấp thuận vị trí, thiết kế đấu nối tạm và cấp giấy phép thi công vào quốc lộ, đường địa phương...”. Tại khoản 4 Điều 31 quy định: “4. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu đấu nối tạm thời nộp hồ sơ theo một trong các hình thức trực tiếp, thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tại cổng dịch vụ công hồ sơ đề nghị đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này”. Quy định có thể phát sinh 2 cách hiểu: Tổ chức, cá nhân phải thực hiện 3 thủ tục bao gồm: chấp thuận vị trí; thiết kế đấu nối tạm; cấp giấy phép thi công để được đấu nối tạm thời hoặc tổ chức, cá nhân chỉ cần thực hiện 1 thủ tục theo Điều 4 để được đấu nối tạm thời. Vậy xin hỏi quý Bộ cách hiểu nào là chính xác? (cán bộ địa phương đang hướng dẫn đấu tạm theo 3 thủ tục như trên có đúng hay không?)”.

Vũ Tuấn Anh () -

Kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ và không phải thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 96/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Kinh doanh bất động sản:

“1. Cá nhân kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ phải đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Không thuộc trường hợp phải lập dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về xây dựng, nhà ở;

b) Không thuộc trường hợp có giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần trong một năm. Trường hợp giao dịch 01 lần trong một năm thì không tính giá trị”.

Theo đó, cá nhân kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ phải đáp ứng hai yêu cầu sau: (1) Không thuộc trường hợp phải lập dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về xây dựng, nhà ở;

(2) Không thuộc trường hợp có giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần trong một năm. Trường hợp giao dịch một lần trong một năm thì không tính giá trị Áp dụng quy định nói trên, liệu rằng một cá nhân bán 30 bất động sản với mỗi hợp đồng giá trị 6 tỷ đồng thì có được xem là đang thực hiện kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ để không phải thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản hay không?

Tôi đang có 2 cách hiểu như sau:

Cách hiểu thứ nhất: Cá nhân bán bất động sản mà không có giá trị quá 300 tỷ đồng và không có số lần giao dịch quá 10 lần/năm thì được xem là kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ. Như vậy, cá nhân bán 30 bất động sản mỗi hợp đồng giá trị 6 tỷ đồng thì không được xem là kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ vì có số lần giao dịch quá 10 lần/năm (bán 30 bất động sản). Theo đó, cá nhân này phải đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.

Cách hiểu thứ hai: Không thuộc trường hợp có “giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần/năm”. Cụm điều kiện “có giá trị quá 300 tỷ đồng trên một hợp đồng và có số lần giao dịch quá 10 lần/năm” là một tổ hợp điều kiện đồng thời. Như vậy, chỉ khi cá nhân vừa thực hiện giao dịch vượt quá 10 lần/năm, và đồng thời có ít nhất một hợp đồng bất động sản có giá trị vượt quá 300 tỷ đồng, thì mới bị coi là vượt phạm vi “quy mô nhỏ” và phải đăng ký kinh doanh.

Trong các trường hợp còn lại, như cá nhân thực hiện 30 giao dịch/năm nhưng không hợp đồng nào vượt quá 300 tỷ đồng hoặc thực hiện giao dịch dưới 10 lần/năm nhưng giá trị giao dịch trên 300 tỷ đồng/hợp đồng, thì cá nhân này vẫn được xem là chưa vượt ngưỡng của tổ hợp điều kiện đồng thời trên và không phải đăng ký kinh doanh bất động sản. Vậy xin hỏi quý cơ quan là cách hiểu nào đúng để tôi có thể áp dụng vào thực tiễn cho đúng quy định?

Lê Nguyên (lenguyen912hlu@gmail.com) -

Xác nhận điều kiện về nhà ở để mua nhà ở xã hội

Tôi là viên chức, thuộc đối tượng 8 Điều 76 về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Theo tìm hiểu điều kiện về nhà ở để mua nhà ở xã hội, tôi được biết: Điểm a khoản 1 Điều 51 Luật Nhà ở 2014 quy định có cụm từ chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở. Điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở 2023 có cụm từ chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức. Câu hỏi của tôi là: Theo quy định hiện hành thì chính sách về nhà ở và chính sách về đất ở có khác nhau hay không? Theo Luật Nhà ở 2023 thì được Nhà nước bồi thường đất ở tái định cư (do mở đường cao tốc tuy nhiên cách xa nơi làm việc hiện tại 35km) có được xem là đã hưởng chính sách về nhà ở dưới mọi hình thức hay không?

Nguyễn Thị Bảo Châu (phubinhkhdt@gmail.com) -

Điều kiện mua nhà ở xã hội khi có sở hữu đất nhưng không có nhà ở

Vợ chồng tôi có hộ khẩu thường trú tại phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên. Hai vợ chồng là lao động thu nhập thấp, đang có nhu cầu mua nhà ở xã hội. Vợ chồng tôi đã có đất, trên sổ đỏ mang tên 2 vợ chồng, nhưng trên sổ đỏ không có nhà ở. Qua tìm hiểu về điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, theo Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện nhà ở theo hướng mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở, bao gồm cả trường hợp không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận và không phụ thuộc thời điểm nộp hồ sơ mua, thuê mua nhà ở xã hội. Đồng thời, thẩm quyền xác nhận cũng được quy định theo hướng rộng hơn là giao cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai. Cụ thể:

Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó. Như vậy, theo nghị định mới vợ/chồng tôi đáp ứng đủ điều kiện về tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở phải không? 

Hoàng Dung (hoangdung207@gmail.com) -

Điều kiện để mua, thuê nhà ở xã hội

Gia đình tôi chưa có nhà, đang ở chung với gia đình bên ngoại. Nay tôi muốn tham gia mua, thuê nhà ở xã hội tại TP.HCM. Chúng tôi có 2 con, trong đó có 1 bé bị khuyết tật trí tuệ. Hiện tại chỉ có chồng tôi làm việc có hợp đồng lao động với mức lương 12-13 triệu đồng/tháng. Tôi vừa chăm bé khuyết tật vừa phụ giúp buôn bán nhỏ, không có hợp đồng lao động. Vậy điều kiện của tôi có được tham gia mua, thuê nhà ở xã hội theo quy định không? 

Trúc Anh (run.run.lntd@gmail.com) -